2024 bất định theo sau một năm 2023 chậm chạp của kinh tế Việt Nam

Theo EastAsiaForum, 14 tháng 12 năm 2023

Tác giả:
David Dapice là Nhà kinh tế học cao cấp tại Trung tâm Quản trị và Đổi mới Dân chủ Ash tại Trường Chính phủ John F Kennedy, Đại học Harvard.

2024 bất định theo sau một năm 2023 chậm chạp của kinh tế Việt Nam
2024 bất định theo sau một năm 2023 chậm chạp của kinh tế Việt Nam

Sau hai năm suy thoái kinh tế do COVID gây ra, Việt Nam đã phục hồi trở lại vào năm 2022 với thành tích mạnh mẽ – GDP tăng hơn 8%. Vào năm 2023, chính phủ hy vọng rằng nền kinh tế toàn cầu và Trung Quốc mạnh mẽ hơn sẽ cho phép Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, bao gồm tăng trưởng về du lịch và các dịch vụ liên quan. Các dự đoán hoặc hy vọng về mức tăng trưởng GDP từ 6% đến 7%.

Nhưng cả thế giới và Trung Quốc đều cho thấy nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam ít hơn kỳ vọng. Giờ đây, ngay cả thủ tướng Việt Nam cũng đề xuất mức tăng trưởng “khoảng 5%”, gần với mức 4,7% mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính cho năm 2023. Xuất khẩu giảm 5,7% trong 11 tháng đầu năm 2023. Đối với một nền kinh tế có xuất khẩu gần bằng GDP, điều này tạo ra một vấn đề tăng trưởng nghiêm trọng.

Tính đến tháng 11 năm 2023, doanh thu du lịch tăng 50%, nhưng điều này không đủ để bù đắp cho sự yếu kém trong tăng trưởng sản lượng công nghiệp, chỉ ở mức 1%. Trong khi các yếu tố bên ngoài góp phần đáng kể khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại, thì các vấn đề về cung cấp điện cũng góp phần khiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng chậm. Tình trạng thực tế là chỉ tăng 2,9% tính theo đồng đô la, có thể là một sự sụt giảm nhẹ nếu tính theo giá trị thực.

Chính phủ đã làm đúng một số điều. Họ đã cố gắng tăng đầu tư công lên hơn 20%, cung cấp cơ sở hạ tầng tốt hơn và tạo ra nhu cầu nhiều hơn. Chính phủ giữ lạm phát trong tầm kiểm soát và hệ thống ngân hàng lành mạnh, mặc dù các vấn đề trong lĩnh vực bất động sản tiếp tục đè nặng lên đầu tư, niềm tin và tính thanh khoản của một số ngân hàng bị ảnh hưởng. Nhiều công ty phát triển bất động sản gặp khó khăn trong việc hoàn trả hoặc tái cấp vốn cho trái phiếu doanh nghiệp của họ.

Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden và việc nâng cấp quan hệ Mỹ-Việt lên mức tương đương với Trung Quốc đã khuyến khích “chào đón bạn bè” FDI và chuyển giao công nghệ. Nhưng quyết định của Intel không mở rộng các cơ sở lắp ráp và thử nghiệm chip quan trọng của mình tại Việt Nam cho thấy rằng mặc dù kỹ năng chính trị là cần thiết nhưng chưa đủ để thu hút các khoản đầu tư chất lượng cao hơn mà Việt Nam mong muốn. Việc chính phủ chú trọng sản xuất chip máy tính, tuy có thể hiểu được, nhưng có thể dẫn đến tiến bộ chậm hơn trong lĩnh vực an ninh mạng và trí tuệ nhân tạo.

Một vấn đề lớn hơn đối với cả FDI và tăng trưởng kinh tế nói chung là tình trạng tương đối yếu kém của khu vực tư nhân và tình trạng thiếu lao động lành nghề cần thiết để thay thế các công việc lắp ráp đơn giản, nhóm ngành mà các nhà máy đang dịch chuyển sang các nước có lao động chi phí thấp hơn. Intel quyết định không mở rộng tại Việt Nam do lo ngại về nguồn điện ổn định, thủ tục hành chính quá mức khó khăn và trình độ kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học Việt Nam. Việc mất đi sự mở rộng của một công ty lớn và hiện tại sẽ khiến Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiến xa hơn trong chuỗi giá trị sang sản xuất chip cạnh tranh.

Các vấn đề về năng lượng đặc biệt gây ngạc nhiên vì Tập đoàn Điện lực Việt Nam, công ty điện lực nhà nước, đã lên kế hoạch tăng trưởng nhu cầu 8% hàng năm, trong khi lượng điện sử dụng thực tế kể từ năm 2019 chỉ tăng khoảng một nửa. Công suất phát điện dư thừa nhưng lại thiếu than, dẫn đến việc sử dụng quá mức thủy điện, các vấn đề về bảo trì và thiếu công suất truyền tải dẫn đến tình trạng thiếu điện.

Trong khi có thêm nhiều đường dây truyền tải được lên kế hoạch, danh tiếng của Việt Nam bị tổn hại thể hiện ở mức tăng trưởng chậm của vốn FDI thực sự đưa vào Việt Nam. Công suất truyền tải điện cao hơn sẽ cho phép tăng cường sử dụng điện tái tạo từ miền Trung Việt Nam, nơi có nguồn tài nguyên năng lượng mặt trời và gió thuận lợi. Điều này có thể quan trọng nếu giá nhiên liệu tăng trở lại do tình trạng thiếu hụt ở châu Âu. Với mô hình thời tiết El Nino đe dọa hạn hán ở Đông Nam Á, nhiều năng lượng tái tạo hơn sẽ cho phép sử dụng lượng thủy điện đáng kể khi năng lượng tái tạo không được sản xuất. Điều này sẽ tạo ra một hệ thống điện sạch hơn và mạnh mẽ hơn.

Nếu Việt Nam có thể cải thiện vấn đề năng lượng, đào tạo và cơ sở hạ tầng mềm, GDP của nước sẽ có thể tăng trưởng ít nhất 6% mỗi năm trong thời gian còn lại của thập kỷ này. Đối với năm 2024, mục tiêu tăng trưởng của chính phủ là 6 đến 6,5%, tương tự như dự báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á vào tháng 7 năm 2023. Trong khi một số dự báo thấp hơn – Fitch có 5,5% do dự kiến xuất khẩu yếu – việc tiếp tục chuyển một số sản phẩm xuất khẩu ra khỏi Trung Quốc sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam phục hồi.

Nhưng có thể sẽ có những trở ngại đáng kể nếu cả Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu rơi vào suy thoái hoặc tăng trưởng rất chậm, hoặc nếu nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục làm giảm chi tiêu của người tiêu dùng và du lịch. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động đang chậm lại và lao động dư thừa từ khu vực nông thôn đang giảm dần. Hầu hết sự tăng trưởng sẽ phải đến từ việc tăng vốn trên mỗi lao động và tăng năng suất. Điều này sẽ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của khu vực tư nhân trong nước của Việt Nam. Tỷ trọng GDP của nước này chỉ khoảng 11%, thấp hơn nhiều so với mức 30-50% ở Thái Lan và Trung Quốc.

Nhìn chung, 2023 là một năm chuyển tiếp đáng thất vọng đối với Việt Nam. Nếu nền kinh tế toàn cầu phục hồi khi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương ngừng thắt chặt và nới lỏng dần, thì năm 2024 sẽ tốt hơn.

Nguồn: Theo EastAsiaForum
Chuyển ngữ bởi Metta Marketing

Metta Marketing
Chuyên gia tư vấn chiến lược thương hiệu hàng đầu

Chiến lược và quản lý ESG: Hướng dẫn đầy đủ cho doanh nghiệp

Dịch và biên soạn theo Theo TechTarget.com Các sáng kiến ESG có thể giúp thúc đẩy thành công trong kinh doanh. Hướng dẫn này đưa ra cái nhìn sâu sắc về việc tạo và quản lý chiến lược ESG nhằm mang lại lợi ích cho công ty và các bên liên quan khác nhau. Đối […]

NEAR-SHORING: XU HƯỚNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM 2024

NEAR-SHORING (Tạm dịch: Gần bờ) là xu hướng trong đó các công ty chuyển hoạt động sản xuất hoặc dịch vụ của họ đến gần thị trường quê hương hơn, thường đưa họ trở về từ các địa điểm ở nước ngoài. Điều này trái ngược với offshoring, nơi các doanh nghiệp thuê ngoài các […]

Bốn xu hướng chính của ngành hậu cần năm 2024

TRIỂN VỌNG NGÀNH LOGISTICS KHÔNG CHẮC CHẮN Khi chúng ta bước qua năm 2023 đầy biến động, khi ngành hậu cần và vận tải biển chứng kiến sự đảo ngược trở lại trạng thái bình thường và giá cước vận tải giảm từ mức cao kỷ lục xuống mức trước đại dịch, các nhà nhập […]

Người tiêu dùng thế giới năm 2024 – Khai thác cơ hội trong bối cảnh bấp bênh

Theo báo cáo của Euromonitor, tháng 12/2023 Gần đến năm 2024, bối cảnh tiêu dùng toàn cầu vẫn bị chi phối bởi mức độ không chắc chắn cao. Mặc dù lạm phát tổng thể dự kiến sẽ giảm vào năm 2024, nhưng lạm phát cơ bản – không bao gồm giá thực phẩm và giá […]

SÁCH DÀNH CHO CEO TỪ HARVARD 2024 – 10 BÀI CEO PHẢI ĐỌC

Tóm tắt một số nội dung quan trọng từ sách CẦN MỘT CHIẾN LƯỢC ĐỂ LẬP CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP Martin Reeves, Claire Love, and Philipp Tillmanns (Trang 10) Những công ty có quy trình hoạch định chiến lược trong từng giai đoạn cạnh tranh (hay từng năm) sẽ hoạt động tốt hơn những công […]

Chiến Lược Lạc Đà cho năm 2024

Chiến Lược Lạc Đà – Một định nghĩa mới được đưa ra bởi Bà Ngô Phi Phụng, sáng lập Metta Marketing Năm 2024 là một năm đã được dự đoán sẽ còn rất nhiều bất ổn, biến động khó đoán trên khắp thế giới, từ tự nhiên đến xã hội con người. Việt Nam với […]